Chính trị


Cơ giới hóa góp phần xây dựng nông thôn mới

Cơ giới hóa góp phần xây dựng nông thôn mới. (Chinhphu.vn) - Phát triển ngành cơ khí nông nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là một yêu cầu bức thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần vào việc xây dựng nông thôn mới thành công.

Tin liên quan

(Chinhphu.vn) - Phát triển ngành cơ khí nông nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là một yêu cầu bức thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần vào việc xây dựng nông thôn mới thành công.

Đóng góp của khoa học công nghệ 

PGS. TSKH Phan Thanh Tịnh, Chủ nhiệm Chương trình KC.07/06-10 (Chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 “Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”) cho biết, qua 4 năm thực hiện, chương trình đã thực hiện 34 nhiệm vụ (21 đề tài, 13 dự án), tập trung vào các lĩnh vực như cơ giới hóa nông nghiệp; bảo quản, chế biến nông lâm, thủy sản; ngành nghề nông thôn; môi trường…

Kết quả, đã nghiên cứu thành công và soạn thảo được 210 công nghệ và quy trình công nghệ, 137 báo cáo khoa học và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng được 64 mô hình thử  nghiệm và ứng dụng công nghệ của chương trình, tạo ra được 25 hệ thống thiết bị và 658 thiết bị… Cho đến thời điểm hiện tại, nhiều máy móc thiết bị đã được tiêu thụ, tổng số tiền thu được khoảng 41 tỷ đồng.

Các kết quả nghiên cứu đã góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm cường độ lao động, giảm tổn thất, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm… Chẳng hạn, một máy thu hoạch sắn với 4 người lái và phục vụ có thể thay thế 80-100 lao động thủ công. Một máy bóc vỏ lụa nhân điều có thể thay thế cho khoảng 90 lao động thủ công. Một máy cắt tách vỏ cứng hạt điều có thể tăng năng suất gấp hơn 2 lần so với cắt tách thủ công… Các máy đều có trình độ cơ khí hóa và tự động hóa cao nên điều khiển nhẹ nhàng.

Hay sử dụng phân bón lá do các dự án của chương trình tạo ra đã làm tăng năng suất của một số  cây trồng (lúa: 10%; chè: 15-20%; rau: 20- 25%...). Ứng dụng công nghệ và hệ thống thiết bị nuôi tôm không những đảm bảo nuôi trồng bền vững mà còn tăng được năng suất nuôi tôm 50%. Công nghệ nuôi cá lồng biển mở có tỷ lệ sống gần như đạt tuyệt đối 98,9%... Theo tính toán sơ bộ của một số đề tài, dự án của chương trình, chỉ tính riêng việc tăng năng suất cây trồng vật nuôi đã làm lợi khoảng 21 tỷ đồng.

Chưa kể đến các sản phẩm do đề tài tạo ra, sản xuất trong nước có giá chỉ  bằng 60-70% so với sản phẩm cùng loại nhập của nước ngoài. Hệ thống thiết bị bóc vỏ lụa nhân điều và cắt tách vỏ cứng hạt điều có giá thấp hơn nhiều lần so với nhập ngoại; Giá đầu tư về công nghệ và thiết bị của dây chuyền chế biến colophon và tinh dầu thông chỉ bằng khoảng 33% của Nhật Bản và khoảng 50% của Trung Quốc; Hệ thống thiết bị phân loại cà phê nhân theo phương pháp ướt có giá thấp hơn 30% so với nhập của Brazil… Theo tính toán sơ bộ chỉ riêng số thiết bị do các đề tài, dự án của chương trình chế tạo đã có giá trị thấp hơn so với nhập khẩu thiết bị cùng loại khoảng 77 tỷ đồng.

Ông Tịnh cho rằng, trong thời gian tới, chương trình nên tập trung chủ yếu vào một số vấn đề lớn thuộc 2 lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp và bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản nhằm đảm bảo sản xuất nông nghiệp hiệu quả như trồng trọt, lâm nghiêp, chăn nuôi, xây dựng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao... Bộ KHCN nên có những định hướng lâu dài cho các chương trình, tối thiểu 10 năm (2 giai đoạn), tầm nhìn có thể tới 15 năm để không bị động về khoa học và có thể giải quyết trọn vẹn những vấn đề lớn mang tính cấp bách.         

Đưa chính sách vào cuộc sống

Theo Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ  sau thu hoạch, đến năm 2020 nước ta phấn đấu đạt 100% diện tích trồng lúa ở ĐBSH và ĐBSCL được  cơ giới hóa bằng các thiết bị hiện đại, hiệu quả cao.

Để đạt được điều này theo TS Chu Văn Thiện – Phó Viện trưởng Viện cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch thì việc cấp bách đầu tiên là có cơ chế chính sách thích hợp nhằm xây dựng công trình thủy lợi, nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn. Cùng với đó là chính sách hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư chế tạo máy móc nông nghiệp nhằm đẩy nhanh tốc độ CGH sản xuất góp phần thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. 

Bà Trần Thị Miêng – Phó Cục trưởng Cục chế biến, thương mại, nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho biết: Bên cạnh việc Chính phủ đưa ra các cơ chế, chính sách thì đỏi hỏi các địa phương phải vào cuộc mạnh mẽ. Quan trọng nhất là các nhà khoa học, nhà sản xuất phải nhanh chóng nghiên cứu để đáp ứng được nhu cầu nhà nông. Dự kiến đến năm 2015, cơ giới hóa khâu làm đất đạt 90% và đến năm 2020 phải đạt 100%, cơ giới hóa khâu gieo cấy đạt từ 25 – 50%, thu hoạch từ 50 – 80%. Đến năm 2020, cả nước phải đạt 50% diện tích thu hoạch bằng máy gặt đập liên hiệp có tính năng kĩ thuật cao. 

Với khâu cơ giới hóa phục vụ chăn nuôi cần hình thành cơ sở giết mổ, chế biến thịt gắn với vùng nhiều sản phẩm, trang thiết bị hiện đại đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Cơ giới hóa và tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp sẽ là biểu hiện tích cực cho việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cần được chú trọng hơn nữa trong thời gian tới. 

Công Trí