Chính trị


Giảm 338 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Giảm 338 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. (Chinhphu.vn) – Tính đến tháng 6/2011, 338 trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên cả nước đã được khắc phục.

Tin liên quan

(Chinhphu.vn) – Tính đến tháng 6/2011, 338 trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên cả nước đã được khắc phục.

Giảm 338 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và kế hoạch triển khai 6 tháng cuối năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường. - Ảnh: Chinhphu.vn

Con số này được đưa ra tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và kế hoạch triển khai 6 tháng cuối năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường diễn ra ngày 20/7.

Trong lĩnh vực môi trường, Bộ đã tổ chức xây dựng kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020. Tính đến tháng 6/2011, đã giảm 338/439 cơ sở trong giai đoạn I của kế hoạch, chiếm 77%.

Bên cạnh đó, đã cơ bản xây dựng, hoàn thiện hệ thống các cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ góp phần quan trọng thúc đẩy tiến độ xử lý các "điểm nóng" về môi trường trên phạm vi cả nước.

Cũng trong 6 tháng đầu năm, ngành Tài nguyên và Môi trường đã đẩy mạnh công tác xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa, phê duyệt quy trình vận hành của 61 hồ chứa trên 11 lưu vực sông, bảo đảm tiến độ, chất lượng.

Đồng thời, hoàn thành việc khảo sát xác định vị trí đặt các trạm quan trắc, giám sát nguồn nước các sông xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc; rà soát mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất khu vực Bắc bộ và Trung bộ, mạng quan trắc tài nguyên nước mặt.

Đặc biệt, lĩnh vực đo đạc và bản đồ đã hoàn thành việc xây dựng mạng lưới trắc địa động lực trên khu vực các đới đứt gãy thuộc lãnh thổ Việt Nam, phục vụ công tác dự báo tai biến tự nhiên; nghiên cứu khả năng thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý và bản đồ địa hình bằng công nghệ lidar (công nghệ đo dài bằng laser từ máy bay)

Đồng thời, thẩm định đường ranh giới trên bản đồ và chủ quyền đối với các đảo trên các bản đồ xuất bản; chuẩn bị các tư liệu, tài liệu tham gia đoàn đàm phán giải quyết lãnh thổ trên biển Đông với các nước; hoàn thiện dự án Cơ sở dữ liệu biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Tổng cục Biển và Hải đảo thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố có biển tập trung hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về biển từ Trung ương đến địa phương nhằm tăng cường sự chỉ đạo, điều hành thống nhất về quản lý biển và hải đảo. Hiện đã có 9/28 tỉnh, thành phố ven biển thành lập Chi cục Biển và Hải đảo trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.

Cũng trong 6 tháng đầu năm, Bộ đã chú trọng triển khai xây dựng 7 dự án Luật thuộc trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Quốc hội khoá XIII, bao gồm: Luật Tài nguyên nước (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo, Luật Khí tượng thủy văn, Luật Môi trường (sửa đổi), Luật Đo đạc và Bản đồ, Luật Tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

6 tháng cuối năm 2011, ngành Tài nguyên và Môi trường cũng sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể, trong đó chú trọng đến các lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường, địa chất khoáng sản, biển và hải đảo.

Việc khai thác, sử dụng nước, xả nước thải gây ô nhiễm nguồn nước sẽ được kiểm soát; bảo đảm đến năm 2011 cơ bản hoàn thành việc cấp phép cho các công trình khai thác, sử dụng nước cho thủy điện, sản xuất nông nghiệp và cấp nước đô thị. Đồng thời, xác định danh mục các nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng; xử lý nghiêm các trường hợp xả nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, đề xuất giải pháp xử lý, khôi phục.

Sau khi Luật Khoáng sản (sửa đổi) bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2011, một số giải pháp quản lý khoáng sản sẽ được tăng cường thực hiện như: khoanh định khu vực khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ; quy hoạch khoáng sản chung của cả nước, khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia; xác định việc thu tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò khoáng sản của Nhà nước để thu lại một phần kinh phí của Nhà nước đã đầu tư cho địa chất, khoáng sản.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu về tài nguyên - môi trường biển sẽ được xây dựng và chuẩn hóa để bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, hiện đại, có độ tin cậy cao, từng bước hiện đại hoá công tác điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển.

Thu Cúc