Giáo dục


Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2011: Đỗ cao, liệu đã nên vui?

Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2011: Đỗ cao, liệu đã nên vui?. VH- Kết quả đỗ tốt nghiệp THPT năm nay của cả nước đạt xấp xỉ 95%, tăng và vượt hơn năm ngoái. Riêng hệ GDTX, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp năm nay tăng cao đến đột biến.

Tin liên quan

Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2011: Đỗ cao, liệu đã nên vui? Trang chủ >Giáo dục >Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2011: Đỗ cao, liệu đã nên vui?

Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2011: Đỗ cao, liệu đã nên vui? (22/06/2011)

Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2011: Đỗ cao, liệu đã nên vui?
Điện Biên các năm trước đứng cuối bảng xếp hạng tỉ lệ đỗ tốt nghiệp thì năm nay có tỉ lệ đỗ cao. Ảnh: Thí sinh tại Hội đồng thi trường THPT Thanh Chăn (huyện Điện Biên). Ảnh Hải Chung
VH- Kết quả đỗ tốt nghiệp THPT năm nay của cả nước đạt xấp xỉ 95%, tăng và vượt hơn năm ngoái. Riêng hệ GDTX, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp năm nay tăng cao đến đột biến.

Nếu những con số, kết quả tốt nghiệp lần này phản ánh đúng thực chất việc dạy học của thầy trò ở nhà trường phổ thông thì đây thực sự là tín hiệu vui, đáng mừng, đáng tự hào, ghi nhận nỗ lực, phấn đấu không biết mệt mỏi của ngành giáo dục. Thử tìm các nguyên nhân, yếu tố nào đã góp phần làm cho kết quả, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT năm nay lại “ tăng trưởng” ngoạn mục đến vậy?

Có kinh nghiệm ôn tập

Không phủ nhận việc nhà trường, thầy cô giáo đã có nhiều kinh nghiệm, phương pháp tốt trong quá trình giảng dạy, tổ chức ôn tập thi tốt nghiệp cho học sinh ở năm tốt nghiệp thứ 3 của chương trình phân ban bậc THPT. Chú trọng rèn cặp đối tượng học sinh yếu kém, tăng cường thời lượng ôn tập, tập trung củng cố, đào sâu kiến thức trọng tâm, cơ bản, lên kế hoạch, tổ chức nhiều lần thi thử tốt nghiệp, thi đại học, tuy có căng thẳng, gây áp lực nặng nề cho các em nhưng cái được thấy rõ, buộc học sinh phải lo học, làm cho học sinh phải chuẩn bị tốt, chu đáo về kiến thức và kỹ năng các môn thi.

Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, sách vở, các tài liệu tham khảo ngày càng đầy đủ, dồi dào hơn đã hỗ trợ tích cực cho thí sinh rất nhiều, tạo cho các em tâm thế chủ động, tự tin trong quá trình học và thi. Hơn nữa, yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của Bộ GD &ĐT trong các môn học, đề thi rất rõ ràng, cụ thể bằng các văn bản, cấu trúc đề thi tốt nghiệp được triển khai khá sớm đến từng học sinh.

Đề thi có môn quá dễ, đề trắc nghiệm ít phiên bản đề

Đề thi các môn nhìn chung là vừa sức, sát kiến thức- kỹ năng cơ bản, trọng tâm, nhiều em hoàn thành bài làm trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, theo các thầy cô giáo bộ môn toán thì đề thi môn toán năm nay dễ hơn nhiều so với các năm trước, do đó, điểm môn toán ở hầu hết các hội đồng thi đều cao.

Năm nay, đề thi các môn trắc nghiệm: vật lý, sinh học và ngoại ngữ làm giới chuyên môn thất vọng vì số lượng phiên bản đề quá ít, chỉ có từ 4 đến 6 bản đề, ít hơn một nửa so với các năm trước. 12 bản đề mà nhiều thí sinh vẫn có thể truyền ký hiệu, trao đổi, quay cóp bài của nhau được.

Đằng này, năm nay chỉ có 4-6 bản đề thì các thí sinh càng thuận lợi, dễ dàng “qua mặt”giám thị. Bởi lẽ đối với các môn thi trắc nghiệm, học sinh có rất nhiều kinh nghiệm làm bài; chỉ cần trong phòng thi có 1 em làm được bài, lập tức các em sẽ chuyền cho nhau đáp án đúng bằng cách ghi lời dẫn mở đầu của câu hỏi và kèm theo đó là đáp án A, B hoặc C, D.

Nhiều em vẫn có cách copy nhau rất tinh vi mà giám thị không thể nào lập biên bản (học sinh ghi vào giấy nháp cỡ chữ lớn để các bạn trong phòng coi theo). Nhiều phiên bản đề góp phần hạn chế sự quay cóp của thí sinh ở mức nào đó.

Có điểm nghề, không có tính cạnh tranh

Hầu hết học sinh lớp 12 đều tham gia học nghề, có điểm khuyến khích cộng điểm tốt nghiệp, từ 1 đến 2 điểm. Theo thống kê nhiều trường thì khoảng 5- 10% thí sinh được “ cứu” từ việc có điểm khuyến khích đó, khi điểm thi ngấp nghé 28, 29. Điểm nghề tuy nhỏ nhưng lại có ý nghĩa lớn, góp phần đưa tỉ lệ đậu tốt nghiệp nhiều trường, nhiều địa phương tăng lên.

Kỷ cương chưa nghiêm

Kỷ luật phòng thi được coi là vấn đề cốt lõi để có kỳ thi nghiêm túc, đúng thực chất. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nhận thức của không ít lãnh đạo Sở Giáo dục, chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng thi đến thầy cô giáo giám thị coi thi về tính chất kỳ thi này cũng không triệt để, dứt khoát. Ngay cả việc chấm thi cũng còn bệnh thành tích. Nhiều giáo viên ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bày tỏ sự bức xúc khi áp dụng biên bản chấm thi môn Văn của giáo viên 11 tỉnh ở đây quá “sáng tạo”, khác một cách lạ lùng, đến khó hiểu so với văn bản hướng dẫn chấm thi của Bộ được ban hành trước đó.

Nhìn vào tỉ lệ, kết quả đỗ tốt nghiệp nhiều địa phương tăng cao chót vót, ngất ngưởng, chẳng biết đã nên vui chưa?

Nhìn lại lộ trình ba năm qua, nhiều địa phương đã có những “cú nhảy” ngoạn mục. Năm 2009, nhiều người dân Hà Tĩnh xôn xao vì kết quả tốt nghiệp của tỉnh tụt xuống còn 74% hệ THPT và 22% hệ giáo dục thường xuyên. Năm nay Hà Tĩnh có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp lên đến 99,14% ở hệ THPT và 97,61% ở hệ giáo dục thường xuyên. Các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Bắc Kạn trong các năm trước đều đứng cuối bảng xếp hạng về tỉ lệ đỗ tốt nghiệp, thì năm nay tỉ lệ đỗ cũng ở mức cao. Bắc Kạn năm 2010 tỉ lệ đậu tốt nghiệp khoảng 70% THPT và 50% giáo dục thường xuyên thì năm nay là 91,78% ở hệ THPT (chưa tính thí sinh tự do) và 88,86% hệ giáo dục thường xuyên. Tỉnh Sơn La từ chỗ đứng cuối bảng xếp hạng năm 2009 với 39% đỗ tốt nghiệp, năm 2010 vọt lên 91% và năm nay là 97% ở hệ THPT và 98% ở hệ GDTX.

THANH BÌNH (Quảng Ngãi)