Công nghệ


Ngành Công Thương ứng phó với biến đổi khí hậu

Ngành Công Thương ứng phó với biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ làm nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng lên, dẫn đến ngập lụt cũng như hạn hán gây ảnh hưởng không nhỏ đối với một số ngành sản xuất kinh doanh của Bộ Công Thương.

Tin liên quan

Biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ làm nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng lên, dẫn đến ngập lụt cũng như hạn hán gây ảnh hưởng không nhỏ đối với một số ngành sản xuất kinh doanh của Bộ Công Thương.

CôngThương - Nghiên cứu của Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cho thấy, khi nhiệt độ mùa hè tăng 1OC, thì phụ tải trong thời gian từ 9 giờ đến 16 giờ tăng cao hơn phụ tải ở các thời gian khác trong ngày là 2,2%/năm, nhu cầu sử dụng năng lượng cũng tăng lên 1%, đặc biệt trong lĩnh vực dân dụng và thương mại dịch vụ. Nhiệt độ tăng cũng khiến hiệu suất chu trình nhiệt tua-bin hơi nước giảm, gây lãng phí nhiên liệu. Khi nhiệt độ tăng 1OC, đối với tổ máy nhiệt  điện than 300 MW, lượng than tiêu thụ tăng 0,5%, tương đương 4.500 tấn than/năm. Đối với nhà máy điện khí, khi nhiệt độ tăng 1OC thì công suất phát sẽ giảm 0,5%. Mưa bão thất thường và nước biển dâng tác động tiêu cực đến quá trình vận hành, khai thác hệ thống truyền tải và phân phối điện. Nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp đối với các giàn khoan, đường ống dẫn dầu và khí vào đất liền, cấp dầu và chuyên chở dầu. Mặt khác, do mưa lũ lớn bất thường, các hồ chứa nước của các công trình thủy điện không thể điều tiết theo quy trình, dẫn đến gia tăng nguy cơ đe dọa an toàn cho khu vực hạ lưu.

Tác động của BĐKH, nước biển dâng đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh của ngành thép do ngập úng, phải đầu tư sửa mặt bằng bị sụt lún và chống nghiêng ống khói lò nung phôi và lượng phôi bị trôi. Bên cạnh đó, hạn hán làm thiếu nước tuyển rửa quặng, chi phí làm mát thiết bị lò cao, tăng giá thành sản xuất thép bằng lò điện và làm phát sinh nhiều khí, bụi...

Các nghiên cứu ban đầu cũng chỉ ra rằng, xói lở, mưa lũ sẽ tàn phá cảnh quan các mỏ khoáng sản, gây khó khăn cho công tác điều tra, đánh giá, thăm dò và khai thác khoáng sản. Nguy hại hơn, nó còn làm phát tán các kim loại độc hại từ chất thải mỏ, gây ô nhiễm môi trường.

Theo đánh giá chung tại các đơn vị điều tra, khi có mưa lớn sẽ làm giảm khoảng 20-30% sản lượng khai thác lộ thiên và khoảng 10-15% khai thác hầm lò. Ngoài ra, các đơn vị cũng sẽ tiêu tốn một lượng kinh phí không nhỏ cho việc bơm thoát nước. Đối với các mỏ khai thác tới độ sâu lớn (thấp hơn mực nước suối xung quanh), vào mùa mưa, nước mưa ngấm xuống khá nhiều, làm ảnh hưởng đến thi công, thậm chí phải dừng việc khai thác. Đối với hoạt động khai thác than hầm lò, ngoài ảnh hưởng của mưa lũ, ngập lụt, nhiệt độ tăng cao dẫn đến việc phải tăng chi phí cho hệ thống thông gió, làm mát. Chính vì thế mức tiêu thụ điện trên một đơn vị sản phẩm tại một số đơn vị khai khoáng có xu hướng ngày càng cao. Chẳng hạn như, nhiệt độ tăng đã khiến cho Công ty Apatit Lào Cai phải thực hiện lắp điều hòa cho các xe tải chở quặng, năng suất lao động của công nhân giảm. Mùa khô hạn hán tăng, khiến cho việc cấp nước cho hoạt động tuyển quặng tại các công ty khai khoáng gặp khó khăn vì nước cấp cho các nhà máy tuyển chủ yếu là từ các con suối.